Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Sách giáo khoa điện tử sẽ dần thay thế sách truyền thống tại Việt Nam?


(Thethaovanhoa.vn) - Sách giáo khoa điện tử là thiết bị giáo dục chuyên dụng và hiện đại nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu giảng dạy và học tập cho giáo viên và học sinh phổ thông.
Với thiết bị này, thầy và trò có thể khai thác sách giáo khoa và các ứng dụng học tập với nhiều tính năng tương tác và đa phương tiện ưu việt hơn của sách điện điện tử.
Hiện nay, một số sách giáo khoa điện  có cấu hình phần cứng mạnh, được xây dựng không chỉ phù hợp với công năng của một thiết bị học tập mà còn giúp người dùng có được trải nghiệm tốt nhất trong quá trình sử dụng, như có màn hình màu cảm ứng đa điểm công nghệ chống lóa IPS độ phân giải cao, đảm bảo trải nghiệm đọc sách tương đương với sách giấy truyền thống.
Do nhu cầu học và đọc kéo dài, sách điện tử cần được trang bị pin có dung lượng đủ lớn, có thể đọc sách liên tục được 10-12 giờ, phù hợp với mọi bậc học phổ thông, khi học sinh có thể đi học một buổi hoặc bán trú.
Sách giáo khoa điện tử Classbook
Vấn đề cốt lõi của sách truyền thống, cũng như sách điện tử, là nội dung. Nhờ có lợi thế về khả năng lưu trữ, sách điện tử có thể chứa trọn bộ khoảng 300 cuốn sách giao khoa và sách bài tập từ lớp 1 đến lớp 12 của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và nhiều ứng dụng bổ trợ học tập phục vụ cho nhiều môn học. Người dùng cũng có thể truy cập vào kho sách trực tuyến để cập nhật nội dung.
Tại Việt Nam, một trong những sản phẩm sách điện tử đang được triển khai khá thành công là Classbook của Công ty Cổ phần Sách điện tử Giáo dục. Classbook đã được thử nghiệm tại khoảng 20 trường tiểu học và trung học phổ thông tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Hải Phòng. Sản phẩm này đã nhận được danh hiệu Sao Khuê 2013 ở hạng mục Giải pháp Sách giáo khoa điện tử. Trước đó, vào tháng 11/2012, Classbook cũng đã được nhận Giải thưởng Nhân tài Đất Việt.
Một lợi thế khác của sách điện tử là khả năng cung cấp thêm những tính năng ưu việt, giúp người dùng có thể tương tác với nội dung của sách hoặc khai thác thêm nguồn dữ liệu mở rộng liên quan đến bài học ở các dạng âm thanh, hình ảnh hay video tùy theo tính chất của mỗi môn học.
Ví dụ khi xem sách Tiếng Anh, học sinh có thể tra nghĩa của một từ bằng cách chạm từ đó trên màn hình, có thể sử dụng chức năng tương tác “Touch-to-say (chạm để nói) một câu, một đoạn văn hoặc cả bài học tiếng Anh. Với môn Âm nhạc, học sinh có thể nghe bài hát, xem biểu diễn bài hát đó  hoặc hát theo nhạc đệm, tìm hiểu thông tin về nhạc sĩ thông qua các tư liệu mở rộng theo từng bài trong sách giáo khoa.
Tương tự với các môn học khác như Toán học, Vật lý, Hoá học, Lịch sử, Địa lý, Sinh học, Ngữ Văn, học sinh có thể khai thác những thí nghiệm mô phỏng, hình ảnh, bản đồ, những đoạn âm thanh hoặc phim tư liệu hoặc nghe ngâm thơ, kể chuyên, qua đó tiếp nhận các bài học trong sách giáo khoa một cách sống động và lý thú hơn.
Một tính năng ưu việt khác của sách giáo khoa điện tử là học sinh có thể làm các bài tập trắc nghiệm tương tác trên thi ệtdưới các chế độ kiểm tra hoặc luyện tập để có thể tự đánh giá mức độ hiểu bài của mình.
Các tính năng mở rộng cho phép nâng cao tính tương tác giữa học sinh - học sinh và giáo viên trong mô hình lớp học tương tác, giữa nhà trường và gia đình và cơ chế mở trong việc tích hợp vào các giải pháp đào tạo trực tuyến hoặc trao đổi dữ liệu với hệ thống quản lý học sinh/sổ liên lạc điện tử...
H.M.C

GS Hồ Ngọc Đại: 'Cá nhân tự tin, dân tộc sẽ vĩ đại'


(Thethaovanhoa.vn) - “Ta đang sống ở thế kỷ 21, một xã hội chưa từng có trong lịch sử. Với trẻ con thế kỷ 21 ta không thể dạy các em như cách ta từng “dạy” bố mẹ, ông bà chúng”.
Sáng 10/5, GS Hồ Ngọc Đại - người sáng lập mô hình trường thực nghiệm ở Việt Nam – đến nói chuyện với các văn nghệ sĩ và nhà giáo ở Hội Nhà văn Hà Nội.
GS Hồ Ngọc Đại. Ảnh: Mi Ly
1. “Cách đây nhiều năm, nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đến thăm tôi và nói chuyện về cái khó của nền giáo dục” - GS kể. “Tôi nói, mục tiêu giáo dục hiện nay đang xoay quanh 4 chữ: Ai cũng được học. Còn mục tiêu của tôi lâu nay cũng xoay quanh 4 chữ, chỉ khác một chút: Ai cũng học được. Nếu hai mục tiêu đó kết hợp với nhau thì kết quả sẽ rất tốt”.
“Nền giáo dục của ta “ậm ờ” về mục tiêu đã 2.000 năm rồi, từ khi bắt đầu chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Khổng Tử. Khổng Tử chủ trương một điều rất vô nhân đạo mà qua mấy nghìn năm người ta vẫn cứ tin: Cả nước phục tùng một ông vua, trò phục tùng thầy, vợ phục tùng chồng. Cả xã hội chỉ có những mối quan hệ một chiều như vậy. Điều đó không thể tồn tại trong xã hội hiện nay”.
Theo GS Hồ Ngọc Đại, nền giáo dục cũ đó tồn tại song song với nền sản xuất tiểu nông, với cách làm ăn tùy tiện“Trông trời, trông đất, trông mây/ Trông mưa, trông nắng, trông ngày trông đêm”, mà không ai dám “trông vào chính mình”. Thi cử thì có câu “học tài thi phận” đầy may rủi và phó mặc, không dám tin vào khả năng của mình. “Đến bây giờ mà vẫn còn nghĩ thế thì hoàn toàn bỏ đi” - GS nói.
GS Đại tự hào cả đời chỉ làm mỗi một việc là giáo dục. Học trò của ông, GS Ngô Bảo Châu, từng nói: anh cũng “không làm gì khác ngoài việc đi học, sau đó dạy học và nghiên cứu khoa học”. Giáo dục là công việc mãi mãi không lỗi thời, vấn đề là tìm ra phương pháp giáo dục phù hợp với từng thời đại.
2. Với GS Đại, xã hội hiện đại là khi 100% lao động đều là sản phẩm của giáo dục. Ông dự đoán, nước ta sẽ đạt con số đó vào năm 2020. Còn giáo dục có vai trò giúp cá nhân sống bình thường trong xã hội. “Trước đây, 95% dân cư thất học vẫn sống bình thường, nhưng ngày nay, để được sống bình thường thì 100% dân cư phải đi học”.
“Xã hội hiện đại là nơi tồn tại những cá nhân. Tôi nói với các thầy cô giáo trẻ: Đừng nói mình dạy một lớp có 30 em mà hãy nói mình dạy 30 em trong một lớp. Mỗi em là một cá nhân trong tập thể, học để trở thành chính các em”.
“Thế hệ chúng ta là những người lỗi thời. Ngày nay, lấy tuổi tác ra để dạy bảo trẻ con là sai lầm. Nếu người lớn nói “Tao già thế này mà mày dám không nghe tao?”, trẻ con sẽ nghĩ: “Ông biết những gì để tôi phải nghe ông?”. Không thể dạy trẻ con thế kỷ 21 theo cách chúng ta đã “dạy” ông bà, bố mẹ chúng”.
GS Hồ Ngọc Đại đi trước thời đại khá xa, ông nghĩ và làm theo cách đó từ cách đây gần 40 năm (ông thành lập Trường Thực nghiệm ở Hà Nội năm 1978). Giờ đây, ông không còn là lãnh đạo của ngôi trường mình đã dựng nên với bao tâm huyết.
Lần “thao diễn” đó, GS nhớ lại, trong mắt nhiều người có thể không phải là một thành công, nhưng ông luôn tự hào vì học sinh Trường Thực nghiệm sau khi rời trường đều rất tự tin vào bản thân, dù cũng phải cần 1, 2 tháng làm quen với môi trường mới. 
GS kể một câu chuyện nhỏ khiến ông không khỏi vui mừng, về 2 người học trò cũ của trường gặp nhau ở Pháp, khi đó họ là những người hoàn toàn xa lạ. Nhưng họ nhận ra phong thái tự tin hiếm thấy ở người kia và thấy ngờ ngợ, khi hỏi thăm, hóa ra lại đều là cựu học sinh Trường Thực nghiệm. Cả hai ôm chầm lấy nhau.
“Nếu các cá nhân tin vào chính mình, dân tộc sẽ vĩ đại” - ông nói.
Mi Ly
Thể thao & Văn hóa